Thứ Hai, 5 tháng 12, 2016

Cùng khám phá thành công với 80% doanh số thực chất được tạo ra bởi 2% khách hàng!

Dĩ nhiên, Pointer cũng hy vọng có thể tận dụng lợi ích do công trình nghiên cứu mang lại để không chỉ bán được các dịch vụ của công ty – phiếu thưởng thay thế tiền mặt (cash-register coupon) hay những mẫu quảng cáo kích thích sức mua – mà cả công cụ hoạch định để hướng đến các biện pháp marketing khác như TV có khả năng cá biệt hóa (addressable TV - loại TV cho phép bạn lựa chọn những chương trình hợp nhu cầu, sở thích).
Bạn hãy quên công thức 80/20 kỳ diệu – 80% doanh số đến từ 20% khách hàng – vốn đã cũ rích mà các trường kinh doanh vẫn đang thuyết giảng...
Tổ chức Catalina Marketing - cơ quan điều phối hệ thống Checkout Coupon (hệ thống đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm bằng phiếu thưởng) - và Hội đồng CMO (Hội đồng các giám đốc Marketing) đã thực hiện nghiên cứu trên hơn 1.300 loại sản phẩm đóng gói và 54 triệu người mua hàng và đi đến kết luận như sau: trong lĩnh vực sản phẩm đóng gói, một nhóm nhỏ chỉ khoảng 2,5% lượng khách hàng nhưng chiếm đến 80% doanh số.
Và đáng ngạc nhiên hơn, theo lời ông Todd Morris, Phó giám đốc cao cấp của Catalian Marketing và Pointer Media, thậm chí mục tiêu phát triển của những nhãn hàng sản phẩm đóng gói này cũng nhỏ bé và đa dạng đến nỗi phần lớn chúng không được phản ánh qua các phương tiện truyền thông chính thống. Trong nhiều trường hợp, ít nhất một nửa số lượng khách hàng lớn nhất của những công ty này không nằm trong kế hoạch mục tiêu của họ. 
Để chuẩn bị thành lập đơn vị mới, Pointer Media, Catalina đã xây dựng một cơ sở dữ liệu với hơn 1.300 nhãn hàng; quy mô của cơ sở khách hàng nòng cốt - hay còn gọi là khách hàng điểm trục xoay (pivot point customer) - của tổ chức này được công bố tại trang pointmedianetwork.com. 
Dĩ nhiên, Pointer cũng hy vọng có thể tận dụng lợi ích do công trình nghiên cứu mang lại để không chỉ bán được các dịch vụ của công ty – phiếu thưởng thay thế tiền mặt (cash-register coupon) hay những mẫu quảng cáo kích thích sức mua – mà cả công cụ hoạch định để hướng đến các biện pháp marketing khác như TV có khả năng cá biệt hóa (addressable TV - loại TV cho phép bạn lựa chọn những chương trình hợp nhu cầu, sở thích).
Ông Morris tin rằng những phân khúc khách hàng nhỏ bé mà nghiên cứu đã phát hiện ra sẽ nhiệt tình đón nhận việc ứng dụng các phương tiện truyền thông có tính trọng tâm cao và những nỗ lực marketing nhằm củng cố quan hệ khách hàng. 
Chi tiêu có tập trung 
Nghiên cứu còn cho thấy lượng khách hàng nòng cốt của các loại sản phẩm này thường chi rất đậm. Pointer phát hiện thấy trong trường hợp của sản phẩm thức ăn cho thú nuôi Iams, chỉ 1% lượng khách hàng, những người chi đến 93 USD một năm cho sản phẩm này, nhưng đã chiếm đến 80% doanh số sản phẩm.
Còn với Budweiser, nhóm 1,2% khách hàng đóng góp 80% doanh số sản phẩm chi hết 170 USD một năm cho các loại bia mang thương hiệu Bud này. (Những con số trong thực tế có thể còn cao hơn bởi Catalina, với doanh số năm qua đạt 400 tỷ USD, chủ yếu làm việc với chuỗi siêu thị mà bỏ qua các công ty bán lẻ có quy mô lớn và tăng trưởng nhanh như Wal-mart, các hộp đêm, các cửa hàng đồng giá 1 USD – và còn có cả nhiều chuỗi cửa hàng chăm sóc thú nuôi, bán rượu bia, nơi mà theo đó Iams hay Bud được bán ra thường xuyên hơn.
Những con số nói trên ngày càng làm nổi bật vai trò của việc ứng dụng rộng rãi phương pháp quản lý quan hệ khách hàng của những công ty hoạt động trong lĩnh vực sản phẩm đóng gói vốn luôn nghi ngờ tính khả thi của hoạt động này khi mà chi phí cho mỗi khách hàng rất cao.
Ông Dave Murray, Phó Giám Đốc cao cấp của Hội Đồng CMO và trưởng điều phối dự án này phát biểu như sau: “Chúng tôi nghĩ những khám phá này sẽ rất quan trọng đối với các giám đốc thương hiệu hay CMO các công ty sản xuất hàng tiêu dùng đóng gói và điều khiến tôi ngạc nhiên nhất chính là việc doanh số bán hàng của những thương hiệu hay sản phẩm này có tăng hay không lại phụ thuộc nhiều vào một nhóm khách hàng tuy rất nhỏ nhưng đa dạng.”
Cũng xin nói thêm về Hội Đồng CMO, đây là một tổ chức kết nối ngang hàng quy tụ hơn 4.000 chuyên gia marketing trong tất cả các ngành nghề kinh doanh.
Trong số 1.364 nhãn hàng được nghiên cứu, chỉ có 25 là có cơ sở khách hàng theo quy luật: 80% doanh số đến từ 10% lượng khách hàng trở lên. 
Cái đuôi dài 
Theo lời ông Morris, nhóm khách hàng nhỏ nhoi của hầu hết các sản phẩm đóng gói ấy chính là kết quả tự nhiên khi “cái đuôi” của quá trình tung ra sản phẩm ngày càng dài. Số lượng sản phẩm tăng nhanh đến mức giới marketing phải liên tục đối diện với những nhu cầu ngày càng có tính cá biệt hóa và đặc trưng hơn. Morris đưa ra một ví dụ: “Từ chỉ duy nhất một sản phẩm lúc khởi đầu, hiện nay trên thị trường đã có đến 30 loại bột giặt Tide.”
Trên thực tế, Tide là một trong những sản phẩm có cơ sở khách hàng lớn nhất: 12,2% khách hàng mang đến cho nhãn hàng này 80% doanh số. Nhưng từng nhãn hàng con của Tide thì có cơ sở khách hàng nhỏ hơn rất nhiều, chẳng hạn như con số của Tide to Go chỉ là 1,4%, còn của Tide Pure Essentials là 0,8%.
Với thương hiệu Coca-Cola cũng tương tự, dù 80% doanh số của thương hiệu này đến từ 18,8% khách hàng nhưng xét từng thương hiệu con thì con số này chỉ xoay quanh mức 10%. Riêng với Coke Classic, con số này là 12,2% trong khi của Coke Zero chỉ là 2,9%.
Dù mục tiêu mà khách hàng hướng tới đang ngày càng thu hẹp nhưng không hẹp đến mức các chuyên gia marketing vẫn tưởng. Theo Morris, trải nghiệm đã khiến ông thay đổi tư duy xuất phát từ một loại thực phẩm đông lạnh. Khách hàng mục tiêu của sản phẩm này là phụ nữ trong độ tuổi 25 đến 55, có ít nhất hai con và thu nhập bình quân trong năm từ 50.000 USD trở lên.
Các chuyên gia marketing cho nhóm hàng thực phẩm đóng gói này thường có xu hướng dùng cái tên “Emily” để đặt tên cho đối tượng khách hàng mục tiêu bởi bản thân cái tên đã nói lên được hai phẩm chất: coi trọng sức khỏe và có định hướng nghề nghiệp.
Tuy nhiên, theo Morris, chính những người tập thể hình một cách nghiêm túc là đối tượng thường vét hết sản phẩm Emily tại quầy thu ngân. “Hóa ra nhóm khách hàng được xếp vào mục tiêu thứ yếu lại chiếm tỷ trọng lớn hơn trong doanh số bán hàng của sản phẩm này, họ là những thanh niên trẻ đang tìm kiếm protein, những người mà bạn sẽ gọi là anh chàng vạm vỡ của phòng tập thể dục – họ là những người luôn tìm kiếm mọi cách dễ dàng nhất để nạp protein vào cơ thể.”
Theo Gregg Ambach – Giám đốc điều hành của Analytic Partners, công ty phân tích marketing ở Cincinnati – bài học mà nghiên cứu của Catalina đã chỉ ra thiên về tính bất hợp lý trong quá trình truyền đạt thông điệp chứ không phải các lựa chọn truyền thông tồi. 
Ông nói, một kế hoạch truyền thông dù chỉ tập trung vào một đối tượng mục tiêu vẫn ảnh hưởng đến nhiều người không thuộc đối tượng khách hàng mục tiêu đó, do vậy, lượng khách hàng nòng cốt không nằm trong dự tính cũng có thể nắm bắt được thông điệp của kế hoạch.
Nhưng khó khăn nằm ở chỗ họ thường nắm bắt một thông điệp sai. Ông Ambach chia sẻ: “Chất lượng sao chép chính là động lực hàng đầu cho hành động hưởng ứng một thông điệp quảng cáo. Nếu bạn quá chú tâm vào một đối tượng [theo nhân khẩu học] thì bạn có thể đánh mất nhiều khách hàng nhiệt thành.”

Gợi ý bạn cách cứu vớt doanh số bán hàng giảm sút

Khi thuê một chuyên gia viết quảng cáo, bạn có cảm thấy bực mình khi anh ta liên tiếp đặt ra những câu hỏi, mà theo bạn là không cần thiết không? Trên thực tế, một người viết quảng cáo tốt là người biết đưa ra những câu hỏi dưới nhiều góc độ khác nhau. Vì vậy, trong những trường hợp như vậy, bạn đừng nổi nóng và nói với người viết quảng cáo rằng: “Anh chẳng hiểu cái quái gì cả. Vấn đề không phải ở đó” Sai lầm của bạn sẽ bắt đầu từ việc bạn thuyết phục anh ta viết theo ý mình.
Khi lưu lượng chu chuyển hàng hóa quay vòng với tốc độ nhanh, chắc chắn doanh số bán hàng sẽ tăng. Song điều ngược lại thì chưa chắc đã đúng. Doanh số bán hàng giảm sút do nhiều nguyên nhân, trong đó lưu lượng chu chuyển hàng hóa thấp không phải là nguyên nhân trực tiếp. Bốn nguyên nhân chủ yếu và giải pháp đi kèm sau đây sẽ giúp bạn nhìn thấy bản chất của vấn đề, từ đó đưa ra được các biện pháp hợp lý.
Việc phân tích thị trường và thực thi các chiến dịch quảng cáo luôn được nhiều công ty quan tâm, bởi vì nếu không làm tốt những vấn đề này thì đồng nghĩa với việc doanh số bán hàng bị giảm sút do không thu hút được khách hàng mới và phục vụ tốt hơn nữa nhu cầu của các khách hàng hiện tại.
Vấn đề thứ nhất: Các quảng cáo của bạn đưa ra thiếu tính thuyết phục.
Giải pháp: Viết các quảng cáo tốt hơn.
Liệu các quảng cáo của bạn đã “đánh trúng” tâm lý của người tiêu dùng chưa? Nếu như bạn đứng trên góc độ của nhà sản xuất để đưa ra những lời giới thiệu sản phẩm, hiển nhiên cách suy nghĩ của bạn chưa chắc đã giống cách suy nghĩ của khách hàng. Nguyên nhân là do bạn biết quá rõ về sản phẩm, và muốn nói nhiều về đặc điểm và tính năng vượt trội của nó so với các đối thủ cạnh tranh. Đó chưa chắc đã là điều người tiêu dùng muốn nghe.
Khi thuê một chuyên gia viết quảng cáo, bạn có cảm thấy bực mình khi anh ta liên tiếp đặt ra những câu hỏi, mà theo bạn là không cần thiết không? Trên thực tế, một người viết quảng cáo tốt là người biết đưa ra những câu hỏi dưới nhiều góc độ khác nhau. Vì vậy, trong những trường hợp như vậy, bạn đừng nổi nóng và nói với người viết quảng cáo rằng: “Anh chẳng hiểu cái quái gì cả. Vấn đề không phải ở đó” Sai lầm của bạn sẽ bắt đầu từ việc bạn thuyết phục anh ta viết theo ý mình.
Khách quan mà nói, khi viết lời cho quảng cáo, sự hiểu biết về sản phẩm của người viết phải như “tờ giấy trắng”. Tức là, họ cũng chả biết gì hơn khách hàng cả.
Bất cứ khi nào bạn mở một trang quảng cáo để tìm một thợ hàn, người cung cấp máy điều hoà nhiệt độ hay thợ điện thì phần lớn các quảng cáo sẽ cho bạn biết công ty đó đã hoạt động trong bao nhiêu năm, có đội ngũ nhân viên kỹ thuật lành nghề thế nào. Thậm chí là những lời cam kết sẽ mang lại dịch vụ tốt nhất cho khách hàng.
Nhưng những điều này không thực sự điều mà khách hàng cần. Ngày nay điều mà khách hàng muốn biết nhất là: Liệu công ty cung cấp dịch vụ có mặt ngay khi khách hàng cần hay lại bắt khách hàng chờ đợi?
Hiện nay những công ty cung cấp dịch vụ tốt nhất là những công ty biết lấy “chữ tín” làm trọng cho mỗi lần bán hàng. Với họ, phương châm: Hãy giao hàng đúng hẹn nếu không anh sẽ chẳng được trả “một xu” được đặt lên hàng đầu. Nhiều công ty còn đưa ra cam kết trong vòng một giờ nếu không có mặt như đã hẹn, sẽ bồi thường cho khách hàng về thời gian chậm trễ đó.
Vì vậy, việc cần làm trước tiên khi doanh số bán hàng giảm sút là cần xem xét lại các quảng cáo của công ty có nói lên được điều khách hàng cần chưa, hay đó chỉ toàn là những câu nói sáo rỗng không đáp ứng sự mong đợi của người tiêu dùng.
Vấn đề thứ hai: Các quảng cáo không mang lại kết quả như bạn mong muốn.
Giải pháp: Bạn cần chú trọng đến ngân sách và tần suất quảng cáo.
Phần lớn các chủ doanh nghiệp tỏ ra rộng tay trong việc chi ngân quỹ dành cho quảng cáo, bởi vì họ muốn vươn tới mọi đối tượng khách hàng. Kết quả là những quảng cáo loại này trở nên mờ nhạt khi chúng lọt vào mắt quá nhiều người, đồng thời lại không được lặp lại đủ tần suất để mọi người có thể nhớ đến nó.
Vòng đời sản phẩm càng dài thì tần suất quảng cáo cho sản phẩm đó phải càng lớn. Nhờ vậy lưu lượng hàng hoá lưu thông sẽ được đẩy mạnh hơn.
Vấn đề thứ ba : Bạn đang bán cùng một thứ hàng hoá cho cùng một loại khách hàng theo một cách cũ rích.
Giải pháp: Mở rộng mô hình kinh doanh để lôi kéo thêm các khách hàng mới hoặc bán các dịch vụ gia tăng cho các khách hàng hiện tại.
Thường những doanh nghiệp đã gặt hái được nhiều thành công nhất lại rất hay kêu ca về lưu lượng chu chuyển hàng hoá thấp, dẫn đến giảm khả năng tăng trưởng của họ. Sự tập trung quá mức vào một loại mặt hàng và bán cho các khách hàng quen thuộc, không tìm ra phương thức đổi mới và đa dạng hoá sản phẩm cũng như hướng tới nhiều dạng khách hàng khác nhau, chính là một con dao hai lưỡi. 
 
Có phải những thành công trong quá khứ đã ngăn cản không cho bạn thấy mình đang tự đâm đầu vào ngõ cụt? Bạn cần phải biết rõ trên thị trường có rất nhiều khách hàng tiềm năng cho sản phẩm của mình.
Trong những trường hợp này, mở rộng phạm vi khách hàng là việc cần làm ngay. Chắc chắn bạn sẽ phải tìm kiếm và bổ sung thêm rất nhiều dạng khách hàng mới vào danh sách của mình. Nó cũng giống như việc bạn sẽ phải bán những loại hàng hoá mà trước đây bạn không muốn bán.
Vấn đề thứ tư: Danh tiếng của công ty bạn đang đi xuống hoặc sản phẩm của công ty bạn không còn hợp thời.
Giải pháp: Tự đổi mới sản phẩm sau đó đưa chúng trở lại với thị trường.
Bạn cần xem xét kỹ các nguyên nhân giảm sút doanh số hàng bán ra trước khi đưa ra một quyết định đúng đắn. Liệu có nên tăng cường quảng cáo nhiều hơn cho sản phẩm để giúp nó thoát ra khỏi tình trạng ế ẩm? Hay lý do lại nằm ở chỗ sản phẩm đó đã không còn hợp thời?
Ví dụ sau đây sẽ giúp bạn thấy rõ hơn về vấn đề này: những nhà buôn đồ trang sức ở Mỹ muốn tìm hiểu tại sao nhẫn cưới lại không bán chạy trên thị trường thời gian gần đây. Kết quả mà họ tìm ra thật đáng ngạc nhiên, vấn đề không phải do quảng cáo, do thời vụ hoặc do sự không đa dạng hoá khách hàng. Vấn đề ở chỗ tỷ lệ kết hôn tại đất nước này có xu hướng ngày càng giảm, và mặt hàng này thực tế trở nên không có nhu cầu trên thị trường.
Vì vậy, bạn trong vai trò một nhà sản xuất, hãy đặt cho mình câu hỏi có phải nhu cầu thị trường về một mặt hàng nào đó đang thay đổi không? Và bạn phải thay đổi theo nếu không bạn sẽ thất bại.
Có phải tăng lưu lượng chu chuyển hàng hoá sẽ làm tăng khối lượng bán ra của công ty? Chắc chắn bạn sẽ làm được điều đó khi trong tay đã có giải pháp cho bốn vấn đề nêu trên.

Chia sẻ cùng bạn hình thức Marketing cho “teen”: Apple là bậc thầy

Các con số chứng minh cho quan điểm của Kahney. Theo khảo sát của Viacom's (VIA) teen network, sự xuất hiện của iPod như là một “nhãn hiêu được lứa tuổi teen cực kỳ ưa thích”. Khảo sát từ Công ty tư vấn the Keller Fay Group cho thấy sản phẩm mà các bạn trẻ thường hay nói với nhau nhất chính là iPod. Một khảo sát của Piper Jaffray (PJC) chỉ ra rằng 78% học sinh trung học sở hữu một thiết bị viễn thông cầm tay, và trong số các học sinh này, 82% sở hữu một chiếc iPod. : “Truyền thống sở hữu này” lại được tiếp nối tới một sản phẩm khác của Apple – sản phẩm có tên là iPhone. 
Apple vẫn tạo được sự ảnh hưởng lớn đối với lứa tuổi teen.
Từ thời điểm chiếc iPod xuất hiện lần đầu tiên vào năm 2001 đến giờ Apple vẫn luôn dẫn đầu danh sách những nhãn hiệu được lứa tuổi thanh, thiếu niên yêu thích. Thậm chí, một cuộc khảo sát do Autoblog tiến hành còn cho thấy lứa tuổi “ô mai” đặt iPhone cao hơn cả ôtô trong danh sách những thứ được họ mong có nhất.
Vậy điều gì giúp Apple đạt được điều đó?

“Nét văn hóa đặc sắc độc nhất vô nhị”

Sự ảnh hưởng rộng rãi lên thanh thiếu niên của Apple không phải là câu chuyện xây dựng lâu đài thần kỳ trong truyện cổ tích Aladin và cây đèn thần. Ai cũng biết phần lớn các xu hướng trong giới trẻ thường mang tính chất sớm nắng chiều mưa, và khi xu hướng lan rộng thì nó trở thành một hiện tượng. “Có những thiếu niên rất hâm mộ ngài Steve Jobs còn hơn cả Maroon 5,” đó là phát biểu của Leander Kahney, Tổng biên tập của Wired.com. “ Họ có xúc cảm mạnh mẽ đối với Apple ngay cả khi mà mọi người nói chung không tôn sùng các doanh nghiệp và doanh nhân. Apple đã có được bản sắc văn hóa riêng biệt”.

Các con số chứng minh cho quan điểm của Kahney. Theo khảo sát của Viacom's (VIA) teen network, sự xuất hiện của iPod như là một “nhãn hiêu được lứa tuổi teen cực kỳ ưa thích”. Khảo sát từ Công ty tư vấn the Keller Fay Group cho thấy sản phẩm mà các bạn trẻ thường hay nói với nhau nhất chính là iPod. Một khảo sát của Piper Jaffray (PJC) chỉ ra rằng 78% học sinh trung học sở hữu một thiết bị viễn thông cầm tay, và trong số các học sinh này, 82% sở hữu một chiếc iPod. : “Truyền thống sở hữu này” lại được tiếp nối tới một sản phẩm khác của Apple – sản phẩm có tên là iPhone. 

Trong nhiều năm qua, Apple, với xuất phát điểm là một nhà sản xuất computer sử dụng cho các trường học nay đã trở thành một nhà thiết kế các máy móc tinh xảo mang tính giải trí. Có nhiều bài học dành cho những công ty khác đang hy vọng tái tạo ít ra là một phần câu chuyện cổ tích về “nàng công chúa lọ lem” Apple. 

1.Đáp ứng các nhu cầu có thực

Âm nhạc chính là niềm đam mê số một của giới trẻ? Đây là con đường dẫn đến trái tim họ. iPod đã tạo ra công nghệ dùng kỹ thuật số để lập một album tổng hợp. Thay vì việc mua cả một CD cho một vài bài hát được yêu thích, người ta có thể tạo ra một danh sách các bài hát được ưa thích trên một thiết bị nghe nhạc nhỏ gọn cầm tay (phần lớn các bài hát này được tải xuống một cách bất hợp pháp). Ở một khía cạnh nhất định thì Apple đã mang đến cho tuổi teen các công cụ để họ sáng tạo. 

“Apple đã tự đặt mình vào vị trí như là một công ty mong muốn trao quyền hành động cho các khách hàng trẻ tuổi, để họ tự do sáng tạo”, Holly Brickley, chuyên gia nghiên cứu về giới trẻ đến từ Outlaw Consulting, nói. “Mặc dù các công ty công nghệ khác cũng cung cấp các công cụ tương tự, nhưng không một nhãn hiệu nào lại có thể hiểu và làm thỏa mãn nhu cầu này - nhu cầu được tự do hành động, được công nhận như một cá nhân riêng biệt sáng tạo - một điều rất quan trọng đối với thế hệ trẻ”.
2. Các vấn đề về thiết kế

Sản phẩm của bạn không nên chỉ đáp ứng một nhu cầu. Muốn thu hút tuổi teen một cách lâu dài, bạn còn cần có một thiết kế tốt. Bạn cũng có thể mang thiết kế có tính thẩm mỹ cao vào thương hiệu và marketing cho chính mình. Ở đây chúng tôi chỉ muốn bạn nghĩ về cách mà Apple sử dụng gam màu đối lập. Họ cũng kết hợp phong cách thiết kế ấn tượng đó vào việc trang trí các cửa hàng.
3. Hãy để các fan hâm mộ thiết bị viễn thông tự thực hiện công việc Marketing 

Kahney lưu ý rằng bất cứ khi nào Apple bắt đầu có ý định gây sự chú ý với các phương tiện thông tin đại chúng là họ lại dùng các biện pháp marketing. Ông cũng quan sát thấy Apple không bao giờ soạn thảo ra các quảng cáo có quá nhiều thông tin. Thông thường các thông điệp marketing của Apple đơn giản, báo chí và các fan hâm mộ sẽ lấp đầy những chỗ còn trống. 

Khi các cá nhân (và cả các phương tiện thông tin đại chúng khác) bắt đầu nhại lại các quảng cáo về iPod, thì tức là Apple đã thành công với hình thức marketing truyền miệng, mà các bạn biết đấy, hình thức quảng cáo truyền miệng luôn được coi là một trong các phương thức marketing tốt nhất. Quan trọng hơn, trong thế giới của thanh thiếu niên, ý kiến của bạn bè thường có ảnh hưởng rất mạnh đến họ. 
iPhone là mặt hàng được nhiều khách hàng trên thế giới ưa chuộng
4. Không cần phải tỏ ra rằng bạn làm tất cả là “vì thế hệ trẻ” để lấy được sự quan tâm của lứa tuổi teen

Đây là bài học lớn nhất mà các nhãn hiệu khác có thể học được từ Apple. Các sản phẩm của họ dành cho tất cả mọi người. Các quảng cáo của Apple không dành riêng cho bất cứ một lứa tuổi nào. Quảng cáo của Apple tổng hòa các giá trị thương hiệu của sự sáng tạo, đa dạng và cá tính kết hợp với một dòng các sản phẩm có thiết kế tốt, chính những điều này đã biến thế hệ trẻ trở thành các tín đồ của iPod và iPhone. 

Dường như phần lớn các thương hiệu sẽ không bao giờ có khả năng tái tạo khoảnh khắc huy hoàng với iPod và với thành công tiếp theo mà Apple đã có được với tuổi teen và những người lớn có tâm hồn trẻ trung. Tuy nhiên cũng có một số thương hiệu khác đã theo sát được Apple: đó là Nike. Nike đã tạo ra một hiện tượng với NIKEiD., một địa chỉ mà những người yêu thích nhãn hiệu này có thể truy cập và tự thiết kế cho mình các đôi giầy thể thao.
Tuy nhiên, nếu bạn không thể tạo ra được một trào lưu mốt thời đại như Apple, thì bạn cũng vẫn học được điều gì đó từ họ trong cách tiếp cận với giới trẻ.

Không nên bỏ qua những phương kế trong cạnh tranh

Đây là một nguyên tắc được dùng phổ biến nhất trong đấu tranh quân sự và chính trị, và nó cũng thích hợp trong cạnh tranh kinh tế thời hiện đại vì doanh nghiệp là một hệ thống lớn kiểu mở cửa, luôn muốn trao đổi thông tin và trao đổi năng lượng với môi trường toàn xã hội. Câu nệ - không thay đổi, cứng nhắc - bảo thủ là điều tối kị trong cạnh tranh, phải xem xét đánh giá tình hình, biết trước, làm trước là "pháp bảo" của thắng lợi. Các doanh nghiệp phải biết nhìn xa trông rộng và có sáng kiến để đối phó những thay đổi, những sự cố đột biến, tránh tình trạng không kịp đề phòng, không kịp trở tay. 
Sự quyết liệt của thương trường thực sự là một thách thức lớn đối với các doanh nhân.
Doanh nhân người chủ doanh nghiệp "nhạy cảm" với tình thế, nắm vững những nguyên lý cơ bản trong cạnh tranh là yếu tố quyết định thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Vậy làm thế nào để Doanh nghiệp luôn đứng vững trên thương trường với tư thế tự chủ?
Tục ngữ có câu "Cùng ngành nghề chứ không cùng lợi nhuận" cạnh tranh là sự tất yếu của thương trường. Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là sự so sánh, đối chứng sức mạnh cạnh tranh cơ bản giữa các doanh nghiệp, những đe doạ thách thức hoặc cơ hội của doanh nghiệp, chủ yếu có được từ quá trình đối kháng của sức mạnh này. Cạnh tranh trên nhiều phương diện: Thương hiệu - Chất lượng - Mẫu mã - Giá cả... 
Chúng ta đã và đang tiến tới xây dựng một thương trường lành mạnh, một môi trường kinh doanh có văn hoá - sự phát triển vững bền cho doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế đất nước nói chung... Xin trân trọng giới thiệu tới các doanh nghiệp, doanh nhân mười phương kế hữu hiệu trong cạnh tranh giành thắng lợi. (Nhà xuất bản quản lý doanh nghiệp Trung Quốc) 
Xem xét đánh giá tình hình, chiến thắng bằng "thay đổi" 
Đây là một nguyên tắc được dùng phổ biến nhất trong đấu tranh quân sự và chính trị, và nó cũng thích hợp trong cạnh tranh kinh tế thời hiện đại vì doanh nghiệp là một hệ thống lớn kiểu mở cửa, luôn muốn trao đổi thông tin và trao đổi năng lượng với môi trường toàn xã hội.
Câu nệ - không thay đổi, cứng nhắc - bảo thủ là điều tối kị trong cạnh tranh, phải xem xét đánh giá tình hình, biết trước, làm trước là "pháp bảo" của thắng lợi. Các doanh nghiệp phải biết nhìn xa trông rộng và có sáng kiến để đối phó những thay đổi, những sự cố đột biến, tránh tình trạng không kịp đề phòng, không kịp trở tay. 
Xuất bất kỳ (bất ngờ) đánh vào chỗ không chuẩn bị 
Trên thương trường, hạt nhân của bất ngờ, đánh vào chỗ không chuẩn bị, được thể hiện ở chữ "kỳ " - mưu lược "xuất kỳ bất ý" mà các ông chủ hiện đại thường dùng đều dốc tâm sức vào chữ "kỳ". Nếu muốn thành công đòi hỏi bạn phải có tư tưởng kinh doanh xuất kỳ (lạ thường), đưa ra sản phẩm lạ thường, xảo thuật kinh doanh lạ thường, phương thức tiêu thụ và thái độ phục khác lạ. 
Nhanh chóng giành thắng lợi 
"Thời gian là vàng bạc" thực sự là kinh nghiệm cạnh tranh hiện đại bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị của đồng tiền, đến chiếm dụng và tốc độ quay vòng của đồng tiền, đến việc nắm bắt cơ hội. Với một doanh nghiệp mà nói, cơ hội thường là điểm chuyển hướng của thăng tiến, là nơi mở ra thành công, chỉ có nắm chắc được thời cơ thì chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp mới có thể mang lại hiệu quả. Người cạnh tranh hiện đại phải rất coi trọng "cơ hội" phải tranh thủ thời gian từng giây, từng phút, nếu có cơ hội phải quyết đoán, dứt khoát bắt tay vào làm ngay. 
Lùi trước tiến sau 
Binh pháp có phép dùng binh : "Đánh đòn phủ đầu, lùi trước tiến sau". Người hành động sau trong cạnh tranh cũng có thể thắng được người khác trên tất cả các mặt đều tỏ ra ưu thế hơn người hành động trước, họ có thể tiếp thu bài học thất bại của người đi trước để giành được hiệu quả kinh tế tương đối tốt. Nhưng người làm sau phải nhằm đúng thời cơ, hành động rứt khoát, quyết đoán, quyết không thể hành động mù quáng để dẫn đến thất bại quá sớm, cũng không nên do dự chần chừ mà để lỡ thời cơ.
Tập trung ưu thế, đột phá trọng điểm 
Cạnh tranh kinh tế thực chất là cuộc cạnh tranh về nhân lực, vật lực và tài lực. Nhưng bất kỳ cá nhân, tập thể nào cũng đều bị hạn chế trong những nguồn này. Trong tình hình như vậy, phải sử dụng nguồn vốn như thế nào để có hiệu quả nhất - đây là một trong những điểm mấu chốt để cạnh tranh thắng lợi. Người thành công thật sự thì quy mô sự nghiệp của họ không thể trải ra quá rộng mà chỉ nên hành động trong phạm vi mình có thể nắm chắc được. Như vậy bảo đảm tập trung ưu thế, đột phá trọng điểm, thúc đẩu toàn cục. 
Hướng tới cái lợi, tránh cái hại, phát huy sở trường, tránh sở đoản 
Đây là một trong những nguyên tắc bắt buộc người quyết sách phải tuân theo khi lựa chọn phương pháp tối ưu. Muốn trong một thời gian ngắn chiếm được ưu thế canh tranh với chi phí thấp nhất, con đưòng duy nhất có thể lựa chọn là hướng tới cái lợi, tránh cái hại, phát huy sở trường, tránh sở đoản. 

Trong cạnh tranh kinh tế, bất kì một doanh nghiệp nào cho dù thực có lực mạnh đến đâu đều có điểm yếu và điểm mạnh của mình, đều không thể chiếm lĩnh toàn bộ thị trường. Trường hợp đứng trước lợi hại đan xen phải tuân thủ theo nguyên tắc: Hai cái lợi lấy cái lợi lớn, hai cái hại lấy cái hại nhỏ "Lấy cái mạnh của mình đánh lại cái yếu của đối phương" đồng thời đánh vào khe hở của thị trường. 
Vu hồi giành thắng lợi 
Trong đối kháng và cạnh tranh của thị trường chúng ta không thể mãi mãi chỉ đi theo con đường thẳng, điều quan trọng nhất là phải cố gắng nhìn xa trông rộng, dự báo tương lai một cách chính xác, dũng cảm đối mặt với khó khăn, tỉnh táo nhìn nhận thành tích. Vừa làm hảo hán trong hoàn cảnh thuận lợi, không quá đắm mình trong tình thế có lợi, lại vừa làm anh hùng trong hoàn cảnh khó khăn, không hề dao động trước nguy cơ áp lực. 
Kế Vu hồi được ứng dụng trong thời gian, là lấy kéo dài thay thế tốc thắng (thắng nhanh). Trong tình huống thời cơ và điều kiện chín muồi phải thần tốc, quyết chiến quyết thắng. Ngược lại khi điều kiện chưa đầy đủ, thời cơ chưa chín muồi, phải tính kế lâu dài, bảo toàn thực lực và lực lượng, đợi thời cơ chiến đấu lâu dài. 
Tích tiểu thành đại, tích nhỏ để giành thắng lợi 
Để thực hiện mưu lược này nhà doanh nghiệp phải mang trong trái tim chí hướng lớn, phải tự tin vào tương lai ở phía trước; nếu thấy tự hổ thẹn, nhát gan lùi bước, không có chí hướng lớn thì khó có thể bước qua cửa ải "long môn". Thực hiện mưu lược tích tiểu thành đại còn phải có ý chí kiên trinh bất khuất và tinh thần không ngại khó khăn gian khổ. 
Mưu cầu thắng lợi trong lùi bước  
Những người thành công đều biết vận dụng thành thạo chiến thuật tiến thoái hợp lý hơn nữa đây còn là "pháp bảo"của thành công. Trong tình thế ở vào bất lợi, có thể đầu hàng, có thể giảng hòa cũng có thể rút lui. Trong ba điều này. Trong ba điều này đầu hàng là thất bại hoàn toàn, giảng hoà là một nửa thất bại, rút lui có thể chuyển bại thành thắng. 
Trong cạnh tranh kinh tế, lùi bước cũng là một khái niệm rất có giá trị. Có thể dự báo xem xét trước được hay không những thất bại hoặc tình hình xấu có thể xẩy ra để có được kế hoạch và thu xếp chu đáo.
Lấy rẻ để giành thắng lợi 
Vì mục đích phát triển lâu dài, người thành công thường phải hi sinh một vài lợi ích nhỏ trước mắt, thậm chí bỏ ra một số vốn để mở rộng việc kinh doanh buôn bán từ nay về sau và cũng từ đó để gây dựng lòng tin. Người kinh doanh của doanh nghiệp phải thông qua hạch toán tỉ mỉ điều tra và dự tính chu đáo thị trường, mục tiêu "thả dây dài để câu cá lớn". Vì vậy trong ngắn hạn có thể chấp nhận buôn bán lỗ vốn cũng được, chỉ cần đầu tư trên thị trường có tiềm lực phát triển thì cuối cùng vẫn giành được thắng lợi lớn.

Bạn cần nắm rõ nguyên tắc SMART trong kinh doanh

Cũng đối khi người ta nhầm lẫn giữa chữ “A” và chữ “R”. Tuy nhiên, điều “có thể thực hiện được” không đồng nhất với “thực tế”. Một người được mời về làm giám đốc tài chính ngân hàng thương mại cổ phần, bằng cấp chuyên môn và kinh nghiệm điều hành đều siêu hạng (A) mà không có “Chân” trong hội đồng quản trị (R) thì không thể có cơ hội trở thành tổng giám đốc của ngân hàng đó được. Từ ví dụ này có thể hiểu, nếu có đầy đủ điều kiện thuộc tiêu chí A mà thiếu đi tiêu chí R thì không thể đạt được mục tiêu. Điều này còn đúng hơn trong đời sống chính trị.
Trong kinh doanh hiện đại, người ta thường đề cập đến nguyên tắc SMART
Cuộc sống ngày nay với sự đòi hỏi ngày càng cao trong công việc bắt buộc chúng ta phải có kỹ năng làm việc tốt để có thể thích nghi được với nó, đạt được kết quả cao trong công việc cũng như cân bằng được cuộc sống cá nhân và gia đình. Tuy nhiên, với quỹ thời gian bất biến thì không phải lúc nào chúng ta cũng có thể giải quyết hài hoà được việc này. Mỗi ngày có 24 tiếng, một tuần có 7 ngày, 1 tháng có 30 ngày và một năm qua đi chỉ sau 365 ngày. Vậy thì tại sao trong một chứng mực thời gian nhất định, có người chẳng làm nên trò trống gì trong khi một số người làm được vô khối việc lớn lao to tát? Phải chăng họ có một khả năng siêu phàm và quỹ thời gian nhiêu hơn so với những người bình thường khác?
Quỹ thời gian của mọi người là như nhau, vì thế, câu trả lời không nằm ở chỗ chúng ta có bao nhiêu thời gian để làm các công việc đó như thế nào cho hiệu quả. Đa số các chuyên gia về quản lý nhân sự cho rằng để sử dụng thời gian của mình một cách tốt nhất, trước hết, mỗi cá nhân phải nhận định năng lực làm việc của bản thân dựa trên phân tích những điểm mạnh, điểm yếu đối với công việc mình đang đảm nhiệm, từ đó mà biết mình mong muốn điều gì trong sự nghiệp ở thời điểm hiện tại cũng như trong tương lai. Đây chính là công việc đặt cho bản thân mình một mục tiêu để hướng tới. Làm thế nào để xác định được mục tiêu chính xác? Trong kinh doanh hiện đại, người ta thường đề cập đến nguyên tắc SMART, tức là mục tiêu được xây dựng dựa trên những tiêu chí sau:
• S-Specific: Cụ thể, rõ ràng và dễ hiểu;
• M-Measurable: Đo đếm được;
• A-Achievable: Có thể đạt được bằng chính khả năng của mình;
• R-Realistic: Thực tế, không viển vông;
• Time bound; Thời hạn để đạt được mục tiêu đã vạch ra.
Trong đó, tiêu chí “đo đếm được” gắn với những con số cụ thể. Ví dụ, mục tiêu của tôi là trở thành người giàu ,vậy giàu thế nào? nghĩa là cần phải có con số cụ thể để đo đếm được. Ví dụ một tỉ hay mười tỉ... Hơn thế nữa, chữ “M” còn mang tính động viên (Motivation), điều này sẽ luôn thôi thúc, tạo ra niềm mong muốn cháy bỏng để tập trung mọi hoạt động nhằm hướng tới mục tiêu nỗ lực phấn đấu để đạt được.
Cũng đối khi người ta nhầm lẫn giữa chữ “A” và chữ “R”. Tuy nhiên, điều “có thể thực hiện được” không đồng nhất với “thực tế”. Một người được mời về làm giám đốc tài chính ngân hàng thương mại cổ phần, bằng cấp chuyên môn và kinh nghiệm điều hành đều siêu hạng (A) mà không có “Chân” trong hội đồng quản trị (R) thì không thể có cơ hội trở thành tổng giám đốc của ngân hàng đó được. Từ ví dụ này có thể hiểu, nếu có đầy đủ điều kiện thuộc tiêu chí A mà thiếu đi tiêu chí R thì không thể đạt được mục tiêu. Điều này còn đúng hơn trong đời sống chính trị.
Bước tiếp theo sau khi xác định được Mục tiêu SMART là hãy viết mục tiêu đó ra giấy, đặt trên bàn làm việc hay bất cứ chỗ nào mà bạn có thể nhìn thấy hàng ngày. Cách này giúp bạn luôn nghĩ đến nó và thúc đẩy bạn hành động hướng tới mục tiêu đề ra.
Sau đó, hãy lập kế hoạch chi tiết để thực hiện. Như vậy, bạn sẽ tính được mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi năm bạn sẽ phải kiếm được bao nhiêu và rồi lên kế hoạch cụ thể để đạt mục tiêu đó, mỗi năm phải tiết kiệm mấy chục triệu, khi nào mua đất,cất nhà. Trong khi lập kế hoạch, cần thiết phải chia nhỏ mục tiêu ra để biết con đường bạn đi bao xa, bạn đã đi được chừng nào (đạt được bao nhiêu % kế hoạch) và tiếp tục bao lâu nữa để về đích.
Điều này cũng giống như tầm quan trọng của những cột cây số khi đi trên đường vậy. Khi đó bạn sẽ biết hôm nay, ngày mai rồi tháng này và năm này phải làm gì. Tốt nhất, nên viết sơ đồ phân tích công việc hàng ngày để biết việc gì cần làm trước, việc gì làm sau, việc gì là quan trọng (important) và việc gì gấp, cần làm ngay (urgent). Tâm lý chung của chúng ta là việc gì dễ và thích thì làm trước, việc khó và không thích thì để lại làm sau..
Thật tệ hại là việc khó càng để lâu, càng khó thực hiện và đôi khi việc gấp lại không hề quan trọng. Hãy liên tưởng tới câu chuyện về chiếc bình và những viên sỏi, nếu ngay từ đầu bạn cho vào chiếc bình đầy cát thì sẽ không có cách nào để xếp những viên đá hoặc sỏi vào đó nữa nhưng khi bạn xếp lần lượt đá-sỏi-cát, bạn còn chứa được cả nước cùng trong một chiếc bình. Vấn đề quan trọng không phải chiếc bình chứa được bao nhiêu thứ mà quan trọng là bạn phải biết phân biệt được công việc nào là khó “đá hộc” và đâu là những viên sỏi hay cát trong cuộc đời, biết cách quản lý thời gian hiệu quả để cân bằng cuộc sống.
Cách quản lý thời gian hiệu quả thường được nhìn nhận từ 2 khía cạnh, người quản lý và nhân viên.
Tại sao người chủ doanh nghiệp luôn cảm thấy thiếu thời gian và quá tải về công việc? Thường thì mức độ quá tải công việc của người quản lý tuỳ thuộc vào quá trình hình thành, quy mô doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh. Tuy nhiên, tâm lý chung của người lãnh đạo là luôn không hết việc. Những người tham công tiếc việc, làm việc đến 18 tiếng một ngày họ vẫn cảm thấy chưa đủ, đôi khi họ ao ước “phải chi 1 ngày có 25 tiếng, 1 tuần có 8 ngày và 1 năm có 266 ngày...” và họ luôn phạm phải một tội là “lấy cắp thời gian của gia đình”.
Vậy có phương pháp nào để cân bằng thời gian cho công việc, nghỉ ngời giải trí và cho gia đình? Với một doanh nghiệp mới ra đời thì hoàn toàn có thể chấp nhận được với sự quá tải về công việc và luôn phải làm thêm rất nhiều tiếng trong một ngày đối với người lãnh đạo. Nhưng tình trạng đó không thể kéo dài mãi, mấu chốt đầu tiên là người chủ doanh nghiệp phải biết cách xây dựng hệ thống, qui trình làm việc, tiếp theo là xây dựng ngay đội ngũ kế cận.
Tiếp đến là phân quyền cho nhân viên thì đòi hỏi phải thật rõ ràng cụ thể, phải đặt niềm tin vào người được giao việc và hãy lùi lại phía sau để nhân viện có sự chủ động trong giải quyết công việc. Nếu các cấp quản lý bên dưới giải quyết các sự vụ tốt thì người lãnh đạo sẽ yên tâm làm những việc “khó” đúng vai trò của mình. Vì thế, điều quyết định hiệu quả quản lý thời gian của người lãnh đạo chính là hiệu quả làm việc của đội ngũ nhân viên.
Ở khía cạnh nhân viên, để thời gian làm việc đạt hiệu quả cao nhất, nhân viên phải xác định được mục tiêu của mình, biết lồng ghép mục tiêu cá nhân với mục tiêu của doanh nghiệp để lên kế hoạch công việc của bản thân. Người quản lý nên hướng dẫn nhân viên xây dựng một mục tiêu Smart, sau đó cùng thống nhất nhau về mục tiêu đó. Khi đã có được sự đồng thuận giưa nhân viên và cấp quản lý thì việc còn lại chỉ là lên kế hoạch cụ thể để đạt mục tiêu đề ra.
Việc phân biệt cái Important và cái Urgent đối với nhân viên không quan trọng như với người quản lý vì công việc của nhân viên thường theo chuyên môn cụ thể và ít những vấn đề phát sinh. Thay vào đó, tính kỷ luật về thời gian với bản thân là thứ cực kỳ quan trọng. Vì vậy, khi đã thống nhất về mục tiêu giữa cấp quản lý và nhân viên đó sẽ có động lực làm việc và họ sẽ tận dụng tối đa thời gian làm việc để đạt mục tiêu.

Giới thiệu với bạn 5 bí quyết trở thành nhân viên bán hàng bậc thầy

Sau mỗi lần đánh bóng, nhân viên bán hàng bậc thầy đều chạy hết tốc lực, vì chỉ trong khoảng thời gian rất ngắn, trước khi đối phương vụng về bắt bóng hay trước khi bóng chạm đất, anh ta hoặc cô ta đã có mặt ở chốt nhà. Nhân viên bán hàng bậc thầy không bao giờ rời bỏ vòng quay bán hàng. Họ luôn chạy nước rút và luôn nỗ lực để thực hiện các cuộc giao dịch. Đây chính là lý do nhân viên bán hàng bậc thầy thường được tôn vinh là “những tay ném bóng cừ khôi’’.
Nhân viên bán hàng bậc thầy bán những ứng dụng mới, sản phẩm mới và lợi nhuận cứ thế tăng theo doanh số.
Nhân viên bán hàng bậc thầy phải là chuyên gia trong mọi lĩnh vực, từ nhỏ đến lớn. Trong những công ty mà nhân viên bán hàng làm việc trực tiếp với khách hàng, nhân viên bán hàng bậc thầy là những người thiết lập giao dịch. Họ đem lại doanh thu cao và những khoản lợi nhuận khổng lồ. Họ mang về những hợp đồng và khách hàng mới.
Nhân viên bán hàng bậc thầy bán những ứng dụng mới, sản phẩm mới và lợi nhuận cứ thế tăng theo doanh số. Họ chính là những người làm nên những con số kỳ diệu. Hơn thế nữa, nhân viên bán hàng bậc thầy còn tự kiếm cho mình những khoản tiền lớn. Họ luôn được trả lương hậu hĩnh, và chẳng có gì lạ khi nhân viên bán hàng bậc thầy thuộc nhóm nhân viên được hưởng lương cao nhất công ty.
Không phải ai cũng có thể là nhân viên bán hàng bậc thầy, nhưng những người này lại có mặt ở khắp nơi. Họ có thể là những nhân viên bán hàng siêu hạng trong các doanh nghiệp, là người bán hàng hưởng hoa hồng, là doanh nhân, chủ doanh nghiệp nhỏ, là những người hành nghề tự do, đại lý, người môi giới hay thành viên ban quản trị của các công ty.
Giữa nhân viên bán hàng bậc thầy và nhân viên bán hàng chỉ có một khác biệt duy nhất: nhân viên bán hàng bậc thầy bán được nhiều hàng hơn, và dĩ nhiên có doanh thu cao hơn hẳn. Dù điều kiện kinh tế thuận lợi hay khó khăn, dù cạnh tranh khốc liệt hay giá cả có biến động đến đâu, thậm chí nội bộ doanh nghiệp đang có nhiều vấn đề nan giải, nhân viên bán hàng bậc thầy vẫn bán được nhiều hàng. Bí quyết nằm ở chỗ họ luôn làm những việc mà những nhân viên bán hàng khác chẳng mấy khi hoặc chẳng bao giờ làm.
Cũng như trong bóng chày, cầu thủ ném bóng phải chạy về các chốt khoảng bốn lần trong suốt trận đấu - điều này đồng nghĩa với việc anh ta nhất thiết phải chạy về chốt thứ nhất từ ba đến bốn hoặc năm lần trong trận đấu, dù có đánh trúng hay không. Vì chạy như vậy không quyết định toàn bộ cục diện trận đấu nên một số cầu thủ không trông mong gì vào cú đánh, cho rằng mình sẽ đánh bóng ra ngoài và uể oải chạy tới chốt. Còn nhân viên bán hàng bậc thầy không bao giờ nghĩ mình sẽ thất bại.
Sau mỗi lần đánh bóng, nhân viên bán hàng bậc thầy đều chạy hết tốc lực, vì chỉ trong khoảng thời gian rất ngắn, trước khi đối phương vụng về bắt bóng hay trước khi bóng chạm đất, anh ta hoặc cô ta đã có mặt ở chốt nhà. Nhân viên bán hàng bậc thầy không bao giờ rời bỏ vòng quay bán hàng. Họ luôn chạy nước rút và luôn nỗ lực để thực hiện các cuộc giao dịch. Đây chính là lý do nhân viên bán hàng bậc thầy thường được tôn vinh là “những tay ném bóng cừ khôi’’.
Một chàng trai sau khi tốt nghiệp đã tìm được công việc đầu tiên: bán hàng… Anh bắt đầu công việc vào thứ hai. Chưa từng được huấn luyện bán hàng, chỉ với vài cuốn sách giới thiệu sản phẩm, một tập danh thiếp và vài lời chỉ dẫn, chàng trai trẻ được yêu cầu ra phố, gặp gỡ những người không quen biết để chào hàng. Mỗi ngày anh thực hiện tới 100 cuộc chào hàng như vậy.
Thế nhưng, sự thật tàn nhẫn trong những ngày đầu bán hàng là đến 90%, thậm chí đôi lần 100%, những cuộc gặp mặt đều bị từ chối. Lúc đó chàng trai không hề biết rằng chào hàng cho mọi đối tượng khách hàng - nhiệm vụ mà anh được giao, là biện pháp bán hàng kém hiệu quả nhất. Tuy nhiên, những lời từ chối xem ra cũng có giá trị.
Chàng trai trẻ học được cách không e ngại những lời từ chối. Bị từ chối là điều bình thường khi bán hàng. Thậm chí, hơi kỳ quặc, chàng trai bắt đầu thấy thích thú với những lời khước từ. Với anh, mỗi lần bị từ chối là một cơ hội để suy ngẫm lại, để thử nghiệm những lời phúc đáp hay để tôi luyện tính kiên trì, dù cho người quản lý không ngừng thúc giục “đi nhiều hơn nữa”, và chàng trai trẻ bắt đầu suy nghĩ.
Kiểu chào hàng bất ngờ đối với khách hàng như vậy cũng giống như một canh bạc. Từ chối cũng có nhiều dạng: khách hàng có thể đi vắng, viện cớ đang họp, quá bận rộn, chỉ gặp những người có hẹn trước, hay không bao giờ lắng nghe hoặc chịu gặp những người bán hàng. Chàng thanh niên chủ trương hẹn gặp khách hàng qua điện thoại, lời nhắn hay các chuyến viếng thăm. Tuy nhiên, giờ đây những cuộc gặp gỡ không còn là những cuộc gặp không mong đợi đối với khách hàng. Tỷ lệ thành công rất cao và tỷ lệ thuận với sự thăng tiến của anh.
Ngay từ khi lựa chọn công việc này, chàng trai đã quyết định rằng nghiêm túc là chưa đủ mà cần phải thật sự nghiêm túc. Người bán hàng này đã tận dụng mọi cơ hội để kết giao với những người bán hàng thành công thuộc mọi lĩnh vực kinh doanh. Anh còn trau dồi kiến thức thông qua sách vở, xem băng hình và tham gia các khóa huấn luyện bán hàng chuyên nghiệp. Tình cờ anh đọc được cuốn Làm thế nào để trở thành một nhân viên bán hàng bậc thầy - cuốn sách đã trở thành bí quyết bán hàng của anh. Và từ đó, chàng trai trẻ nuôi mơ ước trở thành một nhân viên bán hàng bậc thầy đích thực.
Công ty giao cho anh nhiệm vụ mới: giành một khách hàng tiềm năng từ tay một nhà cung cấp khác. Trước đó, chưa từng có ai trong công ty được mời gặp mặt dù chỉ để chào hàng. Chàng trai cũng tiếp cận khách hàng này theo chiến lược bán hàng của công ty. Tuy nhiên anh đã phạm sai lầm khi lặp lại điều mà những người tiền nhiệm đã làm. Anh bị từ chối thẳng thừng. Thậm chí, anh đã nghĩ đến việc bỏ cuộc. Giống như trường hợp của những chuyến chào hàng không được mong đợi, chàng trai bắt đầu suy nghĩ và nghiên cứu.
Sau khi đọc lại các dữ liệu bán hàng cũng như những ghi chép về các cuộc gọi bán hàng, anh nhận thấy cả mình và những nhân viên bán hàng trước đây đều làm những việc như nhau. Họ cùng gọi cho một loại khách hàng, viết những lá thư như nhau và hỏi những câu hỏi chẳng khác gì nhau. Những việc làm này đều thất bại nhưng họ vẫn không thay đổi phương pháp. Chàng trai tự hỏi: "Nhân viên bán hàng bậc thầy sẽ làm những gì?" Những điều nhân viên bán hàng bậc thầy làm khác hẳn những gì một nhân viên bán hàng vẫn làm: họ không chấp nhận thất bại; họ tự thích nghi, thay đổi và chấp nhận mạo hiểm sau khi đã tính toán kỹ. Chàng thanh niên quyết định đổi mới cách thức làm việc và chuẩn bị kiếm thật nhiều tiền. Anh đưa ra một chiến lược bán hàng hoàn toàn mới. Cuối cùng, chính quyết định này đã thay đổi cuộc đời anh, cả trên phương diện tài chính lẫn sự nghiệp.
Chàng trai này biết rằng mình nên bắt đầu bán hàng cho các nhà lãnh đạo cao nhất của khách hàng. Những nhân viên dưới quyền đã từ chối người bán hàng vài lần và ai cũng bảo hãy hỏi cấp trên của họ, đó là các tổng giám đốc điều hành (CEO), giám đốc điều hành (COO), giám đốc tài chính (CFO), giám đốc thông tin (CIO). Trước đó, chàng trai chưa từng làm việc trực tiếp với các nhân vật cao cấp. Anh quyết định làm bằng được điều này, dù có thể sẽ khiến những người anh tiếp cận đầu tiên cảm thấy bị xúc phạm. Hơn nữa, anh chưa từng hợp tác với công ty này, do vậy anh xác định chẳng có gì để mất.
Chàng trai trẻ tự giam mình trong văn phòng, nghiên cứu mọi thông tin liên quan đến công ty kia, từ lĩnh vực kinh doanh, đối thủ cạnh tranh cho đến khách hàng và website. Anh nhận thấy rằng người thật sự đưa ra quyết định quan trọng trong công ty, nhưng rất ít xuất hiện, chính là các CFO. Anh tập suy nghĩ giống một CFO. Và anh đã biết được những gì về việc điều hành một công ty đa quốc gia trị giá hàng tỷ đôla?
Bản thân các CFO cũng gặp khó khăn khi phải thanh toán các hóa đơn đúng hạn. Mối quan tâm hàng đầu của những người này là các vấn đề tài chính, đặc biệt là giải pháp để giảm được chi phí. Dựa vào nghiên cứu của mình, anh đã đi đến kết luận: công ty mình sẽ giúp đối tác tiết kiệm 50.000 đôla một năm bằng cách giảm chi phí vận hành hàng ngày.
Anh tìm số điện thoại của vị CFO đó và hẹn gặp bằng được. Ngay tiếng chuông đầu tiên, vị CFO đã nhấc máy. Sau khi tự giới thiệu, người bán hàng nói ngay rằng cuộc gọi này sẽ kết thúc trong vòng một đến hai phút. Anh cũng nói mình tự tin có thể giúp công ty của ông ta tiết kiệm tới 50.000 đôla, và hỏi ông có mang theo sổ tay công tác không. Vị giám đốc đồng ý và họ sắp xếp một cuộc hẹn. Cuộc gặp gỡ này hoàn toàn mới mẻ và xa lạ, vì thế chàng trai đã lên kế hoạch rất cẩn thận. Anh đi tới cuộc hẹn cùng với một chuyên gia phân tích tình hình hoạt động của công ty mình.
Người ta không bao giờ đề cập tới sản phẩm ngay trong cuộc gặp đầu tiên, vì những câu hỏi của người bán hàng thường tập trung vào việc khách hàng sẽ nhận được gì từ sản phẩm của mình chứ không phải công nghệ hay đặc tính và tiện ích của sản phẩm. Người bán hàng trong câu chuyện trên đề nghị tiến hành một cuộc “kiểm tra nhằm tiết kiệm chi phí” để nhận dạng những quy trình thừa, cũng như những yếu tố gây lãng phí khác. Mặc dù về nguyên tắc, khách hàng phải trả tiền cho những cuộc kiểm tra như vậy, nhưng người bán hàng đã đưa ra một đề nghị khiến vị CFO không thể từ chối: cuộc kiểm tra sẽ hoàn toàn miễn phí nếu không tìm ra quá trình cắt giảm chi phí nào.
Vị giám đốc cử một nhân viên cấp dưới làm việc trực tiếp với người bán hàng để cung cấp cho anh những thông tin cần thiết cho việc tìm ra các vấn đề và biện pháp khắc phục. Trong phút chốc, những người trước đây không để ý hoặc từ chối người bán hàng này đã cộng tác với anh. Có được sự ủng hộ của giám đốc là một điều đáng nể, nhưng chàng trai muốn người được chỉ định làm việc với mình trở thành đồng minh, khiến họ cảm thấy mình cũng là người hùng, là người thắng cuộc.
Người bán hàng giành được sự tin tưởng của “người thắng cuộc” khi người này nhận thấy mục tiêu duy nhất của người bán hàng là giúp công ty anh ta tiết kiệm tiền và giúp anh ta lập công. Hai người trở nên thân thiện và cùng tìm ra giải pháp. Họ trình lên giám đốc một kế hoạch tiết kiệm 5.000 đôla một tháng (cao hơn so với giá của sản phẩm) trong giai đoạn đầu tiên của dự án giảm thiểu chi phí.
Kết quả là một hợp đồng mua hàng trị giá 400.000 đôla được ký kết. Ông giám đốc cũng tán thành giai đoạn hai và ba của dự án, trong đó bao gồm một khoản đầu tư bổ sung cho việc phát triển các sản phẩm tiết kiệm chi phí trên thị trường Mỹ và cả nước ngoài. Dĩ nhiên, vị CFO chỉ đồng ý sau khi xem xét những tính toán chi tiết về đầu tư có lãi mà người bán hàng đề xuất.
Những điều tốt đẹp sẽ tới khi bạn đứng trước mặt người đưa ra quyết định cuối cùng. Một trong những lý do khiến công ty của chàng trai mất quá nhiều thời gian để có được một khách hàng tuyệt vời như vậy đơn giản là vì những khách hàng truyền thống không có lý do để đồng ý. Những hợp đồng theo kiểu truyền thống thường được duy trì dựa trên các quan hệ sẵn có, chúng không thể tạo ra những mối quan hệ mới. Đừng bỏ cuộc chỉ vì bị một ai đó từ chối. Không phải tất cả những lời nói “không” đều có nghĩa là hoàn toàn từ chối.
Trong quá trình kiểm tra để tiết kiệm chi phí, người cộng tác tình cờ cho biết con trai anh ta là một cổ động viên cuồng nhiệt của đội bóng Oakland Raiders. Luôn luôn lắng nghe, nhân viên bán hàng bậc thầy lập tức ghi nhớ chi tiết này. Một tuần sau khi nhận được đơn đặt hàng đầu tiên trị giá 400.000 đôla, người bán hàng đã ghé qua nhà một cầu thủ của Oakland, đồng thời là một trong số những người bạn thân nhất của anh. Trên đường về nhà, anh tặng cho người cộng tác một quả bóng có chữ ký của đội Raiders để làm quà cho cậu con trai. Ghi nhớ những điều nhỏ nhất và tận dụng chúng không bao giờ nằm ngoài khả năng của một nhân viên bán hàng bậc thầy.
Nhân viên bán hàng bậc thầy bán hàng và kiếm tiền cho mình bằng cách đem đến cho khách hàng những khoản lợi nhuận khổng lồ. Khi nhân viên bán hàng bậc thầy thành công, khách hàng của họ cũng thành công và ngược lại. Người bán hàng trong câu chuyện trên đã bắt đầu trò chơi của riêng mình từ cấp độ thấp nhất, từ một anh lính mới trở thành một nhân viên bán hàng bậc thầy.
Phương châm của nhân viên bán hàng bậc thầy
Đây là những nguyên tắc sống và làm việc. Các tổ chức nổi tiếng đều có phương châm riêng. Chẳng hạn, phương châm của Hiệp hội Hướng đạo sinh là "Hãy sẵn sàng", trong khi Tổ chức Giám hộ bờ biển Mỹ chọn "Semper Paratus" (Luôn sẵn sàng), còn tập đoàn IBM lại chọn "Suy nghĩ".
Nhân viên bán hàng bậc thầy đề cao các phương châm vì chúng nhắc họ những việc cần làm để kiếm những khoản lợi nhuận khổng lồ. Một số nhân viên bán hàng bậc thầy có nhiều phương châm, số khác chỉ có một phương châm duy nhất, cũng có nhiều phương châm không rõ ràng. Nhưng khi thăm dò bất kỳ một nhân viên bán hàng bậc thầy nào, bạn cũng sẽ tìm được một hoặc nhiều phương châm.
Dưới đây là một vài phương châm phổ biến của các nhân viên bán hàng bậc thầy:
1. Ngủ sớm, dậy sớm, siêng năng bán hàng và quy đổi các giá trị thành tiền mặt
Nhân viên bán hàng bậc thầy mang lại cho khách hàng sự hài lòng hoặc tiền bạc, đôi khi là cả hai. Nhân viên bán hàng bậc thầy không bán hàng hóa hay dịch vụ, không bán đặc tính, lợi ích của sản phẩm hay công nghệ, họ bán cho khách hàng những tiện ích của sản phẩm hay công nghệ đó. Nói cách khác, họ bán giá trị quy đổi thành tiền mặt mà sản phẩm đem lại. Khi nhân viên bán hàng bậc thầy cung cấp cho khách hàng một giải pháp khắc phục khó khăn, giải pháp đó luôn được quy đổi thành tiền. Nhân viên bán hàng bậc thầy luôn nhắc nhở khách hàng để họ ý thức được họ sẽ mất bao nhiêu tiền nếu không có những giải pháp này.
Nhân viên bán hàng bậc thầy rất độc lập. Họ làm việc chăm chỉ để bán được nhiều hàng và luôn trong vòng quay bán hàng.
2. Nếu ngài không cộng tác với tôi, chúng ta sẽ cùng thất bại
Nhân viên bán hàng bậc thầy hoàn toàn tin rằng mình luôn giúp cải thiện tình trạng hiện tại của khách hàng. Họ biết nếu khách hàng không sử dụng dịch vụ của mình thì khách hàng sẽ bỏ qua thứ gì đó, còn mình sẽ mất doanh thu.
3. Tôi bán hàng ngay khi tỉnh giấc
Nhân viên bán hàng bậc thầy luôn luôn trong cuộc. Những người khác bán hàng để sống, nhân viên bán hàng bậc thầy sống để bán hàng. Khi đồng hồ báo thức đổ chuông vào lúc năm giờ sáng, thay vì một giai điệu hay những tiếng chuông, âm thanh duy nhất cất lên trong đầu anh ta là: “Này nhân viên bán hàng bậc thầy, hãy tỉnh dậy và bắt tay ngay vào bán hàng!” Với họ, bất kỳ lúc nào cũng có thể là thời điểm bán hàng.
4. Cạnh tranh từng ly, từng tấc
Giống như các vận động viên chuyên nghiệp, nhân viên bán hàng bậc thầy phải cạnh tranh từng ly, từng tấc. Họ sắp xếp nhiều cuộc hẹn hơn, chuẩn bị nhiều kế hoạch hơn và làm việc siêng năng hơn những nhân viên bán hàng khác. Họ chú ý tới từng chi tiết. Không có ai đánh máy thư thay họ, và họ cũng chẳng bao giờ mang theo bút máy trong túi áo sơmi. Họ làm việc chuyên nghiệp trong từng động tác vì họ ý thức được rằng chỉ “sẩy một ly” sẽ “đi một dặm”.
5. Tương lai là ngay lúc này
Đó chính là lý do tại sao nhân viên bán hàng bậc thầy phải luôn luôn và trước hết là duy trì được công việc hiện tại của mình. Nhân viên bán hàng bậc thầy say mê bán hàng và họ luôn kiếm được lợi nhuận. Họ luôn cố hoàn thành mục tiêu chỉ trong một cuộc gặp mặt, họ gợi ý về đơn đặt hàng trong mọi cuộc hẹn, và hiện tại họ không dựa vào những mối quan hệ lâu dài để bán hàng theo kiểu truyền thống. Hiện tại nghĩa là ngay bây giờ, ngay hôm nay. Ngay hôm nay hãy làm điều gì đó. Đừng chần chừ. Hãy gọi ngay cho khách hàng. Ngay bây giờ

Một số chiến thuật hay trong việc mua và phát triển thương hiệu

Bạn phải chuẩn bị kho bãi, nhà xưởng sao cho đảm bảo cung ứng kịp 2 tuần hàng nếu có bất kỳ biến động nào xảy ra. Hầu hết người bán franchise sẽ quy định rõ điều khoản này trong hợp đồng. Khi đi thuê, bạn phải đặt cọc và trả trước 1 tháng tiền nhà. Bạn cũng phải đặt cọc trước tiền điện, nước, nhiên liệu, điện thoại… Ngoài ra bạn phải chuẩn bị một số tiền mặt để trả lương nhân viên, ứng quỹ trong những trường hợp khẩn, ngay cả khi mọi giao dịch đều được ngân hàng hóa, bạn cũng phải chuẩn bị trước những khoản dư ra, ít nhất là trước khi khách hàng trả và nó trở về với bạn.
Mỗi thương hiệu có 1 mức phí riêng, có thể từ 4.000 USD đến 20.000 USD, trong những trường hợp đặc biệt có thể lên tới 50.000 USD hoặc hơn. Ngoài chi phí ban đầu để mua quyền kinh doanh( phí sử dụng thương hiệu, phí đào tạo nhân sự…), người mua còn phải đóng thêm phí thường niên (khoảng 3% đến 8% trên lợi nhuận).
Một chiến dịch quảng cáo thành công thì người hưởng lợi là chính chủ thương hiệu và các doanh nghiệp kinh doanh nhượng quyền độc lập
Phí thuê mặt bằng và thuê những tiện nghi
Có thể mua đất hoặc mặt bằng, hoặc cũng có thể thuê để kinh doanh. Nếu như đi thuê, bạn phải đóng tiền hàng tháng và một khoản đặt cọc đáng kể. Hơn nữa bạn phải chi trả các khoản phát sinh để sửa chửa, trang trí, nâng cấp… Người cho thuê sẽ cộng những chi phí này vào tiền thuê nhà, hoặc tính thêm bạn từ 50 USD đến 100 USD một tháng.
Tiền mua dụng cụ
Mỗi hình thức kinh doanh có những đặc điểm khác nhau về dụng cụ. Đây là 1 số tiền đầu tư dài hạn nhưng sẽ được ngân hàng cho vay.
Tiền trang trí cửa hàng
Số tiền này cũng “ngốn” 1 phần đáng kể đối với các doanh nghiệp nhỏ. Hầu hết người bán franchise đã tính số tiền này trong gói bán quyền, buộc người mua trả ban đầu.
Tiền kho bãi
Bạn phải chuẩn bị kho bãi, nhà xưởng sao cho đảm bảo cung ứng kịp 2 tuần hàng nếu có bất kỳ biến động nào xảy ra. Hầu hết người bán franchise sẽ quy định rõ điều khoản này trong hợp đồng
Tiền trả cho hoạt động kinh doanh
Khi đi thuê, bạn phải đặt cọc và trả trước 1 tháng tiền nhà. Bạn cũng phải đặt cọc trước tiền điện, nước, nhiên liệu, điện thoại… Ngoài ra bạn phải chuẩn bị một số tiền mặt để trả lương nhân viên, ứng quỹ trong những trường hợp khẩn, ngay cả khi mọi giao dịch đều được ngân hàng hóa, bạn cũng phải chuẩn bị trước những khoản dư ra, ít nhất là trước khi khách hàng trả và nó trở về với bạn.
Tiền quảng cáo
Dĩ nhiên sẽ có những chi phí cho quảng cáo trong khu vực hoặc mang tầm cỡ quốc gia. Hầu hết người bán franchise yêu cầu người mua trả 1 khoản tiền ổn định trong quỹ thu chi của người bán. Ví dụ McDonald’s có 1 quỹ dành cho quảng cáo với tổng số tiền là gần 100 triệu USD, trong đó nhà tài trợ là chính chủ thương hiệu và từng người mua franchise.
Điều này dễ hiểu bởi 1 chiến dịch quảng cáo thành công thì người hưởng lợi là chính chủ thương hiệu và các doanh nghiệp kinh doanh nhượng quyền độc lập (mức phí này được coi là rẻ hơn và hiệu quả hơn nếu các doanh nghiệp tự đầu tư cho 1 chiến dịch quảng cáo đơn lẻ).